Cam on doi - Merci à la Vie.


Merci à la vie, chaque matin que je me réveille,
J'en ai encore une autre journée pour aimer

fddhv2003@yahoo.fr  - hey885flue448
Actuellement, notre blog marche en turbo ou le compteur est détraqué (plus de 100 lecteurs par jours). A ce rythme, nous dépasserons 100.000 lecteurs à la fin de l'année.
Le seul point noir, c'est peu de gens nous laisse leur critique ou leur suggestion. Faîtes un effort de nous laisser votres critiques et commentaires s'il vous plait !!! khanh-blog.

 
  Voir i-Télé

Pour afficher police VN, télécharger fonts VN à :
télécharger Fonts VN.
Compteur ACTIVITE MONDIALE.

Vendredi 9 mai 2008
publié dans : CHINE-CULTURE
憶江柳

曾栽楊柳江南岸,
一別江南兩度春。
遙憶青青江岸上,
不知攀折是何人。

Ức giang liễu

Tằng tài dương liễu Giang Nam ngạn,
Nhất biệt Giang Nam lưỡng độ xuân.
Dao ức thanh thanh giang ngạn thượng,
Bất tri phan chiết thị hà nhân.

Nhớ liễu bên sông
(Người dịch  : Ngô Văn Phú)

Hàng liễu Giang Nam trồng thuở ấy,
Giang Nam từ giã, đã hai xuân.
Đi xa ta nhớ bờ sông biếc,
Liễu rủ giờ ai đến bẻ cành.

Nguồn: Thơ Bạch Cư Dị, Ngô Văn Phú, NXB Hội nhà văn, 2006.



recommander par lolond ajouter un commentaire
commentaires (0)   

Vendredi 2 mai 2008
publié dans : CHINE-CULTURE
Nous partageons une série Chiêu Quân Cống Hồ. En marge du film, voici quelques écrits sur l'histoire :

(source http://luyenchuong.net/forum/ Auteur : QSmati)
Chiêu Quân (chữ Hán: 昭君, bính âm: zhào jun) là một trong Tứ đại mỹ nhân của lịch sử Trung Quốc. Với sắc đẹp được ví là "lạc nhạn" (làm cho chim sa), câu chuyện về nàng trở thành một đề tài sáng tác phổ biển của thi ca, nghệ thuật. Chiêu Quân đi vào lịch sử Trung Quốc như một người đẹp hòa bình. Sự quên mình của nàng góp phần mang lại hòa bình trong 60 năm giữa Trung Hoa và Hung Nô[1].

Chiêu Quân tên là Vương Tường (王牆), nên cũng được gọi là Vương Chiêu Quân (王昭君). Nàng là con gái của một gia đình thường dân ở Tỉ Quy (秭归), Nam Quận (南郡), nay là huyện Hưng Sơn, tỉnh Hồ Bắc. Được tuyển vào nội cung vào khoảng sau năm 40 TCN, đời vua Hán Nguyên Đế (49 TCN-33 TCN). Trong thời gian ở hậu cung, Chiêu Quân chưa bao giờ được gặp mặt vua và vẫn chỉ là một cung nữ (宮女). Năm 33 TCN, thiền vu Hung Nô là Hô Hàn Da (呼韓邪) đến Trường An để tỏ lòng thần phục nhà Hán, một phần trong hệ thống triều cống giữa nhà Hán và Hung Nô. Ông này nắm lấy cơ hội để đề nghị được trở thành con rể của vua Nguyên Đế. Thay vì gả cưới một công chúa cho thiền vu thì Hô Hàn Da đã được ban cho 5 cung nữ từ hậu cung, một trong số này là Vương Chiêu Quân.

Theo một câu chuyện trong Hậu Hán Thư (quyển 89, Nam Hung Nô liệt truyện) thì Vương Chiêu Quân đã tình nguyện theo thiền vu này. Khi được vời đến triều đình thì vẻ đẹp của Chiêu Quân đã làm cho Nguyên Đế sững sờ và muốn thay đổi quyết định của chính mình.

Chiêu Quân trở thành người vợ được yêu quý của Hô Hàn Tà, được phong là Ninh Hồ Át Chi (宁胡阏氏)[2]. Họ sinh được hai người con trai, chỉ một trong số đó sống sót với tên gọi là Y Chư Trí Nha Sư (伊屠智牙師) và một người con gái, tên là Vân (雲), sau này là một nhân vật đầy quyền lực trong hệ thống chính trị của Hung Nô[3]. Năm 31 TCN, Hô Hàn Da chết, Chiêu Quân muốn trở về Trung Quốc, nhưng Hán Thành Đế đã buộc nàng phải theo tập quán nối dây của người Hung Nô và Chiêu Quân trở thành vợ của thiền vu tiếp theo là Phục Chu Luy Nhược Đề (復株累若鞮)- con trai lớn của Hô Hàn Da. Trong cuộc hôn nhân mới này nàng có hai người con gái. Sau khi chết, Chiêu Quân được táng tại "Thanh Chủng", mộ hiện nay vẫn còn tại phía nam thành Hô Hòa Hạo Đặc, Nội Mông Cổ.

Hòa bình giữa nhà Hán và Hung Nô đã được kéo dài trên 60 năm, tuy nhiên, sau này người ta đã không còn biết gì về các hậu duệ của Chiêu Quân.

Kể từ thế kỷ 3 trở đi thì câu chuyện về Chiêu Quân đã được phóng tác nên như là hình tượng của một nhân vật nữ đầy bi thương trong nhiều tác phẩm thơ ca hay kịch, chẳng hạn như của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương An Thạch, Quách Mậu Thiến, Mã Trí Viễn, Tào Ngu, Quách Mạt Nhược, Tiễn Bá Tán v.v.

Truyền thuyết : Chiêu Quân Cống Hồ

Câu chuyện về Chiêu Quân được gọi Chiêu Quân Cống Hồ trở thành một điển tích. Tồn tại nhiều dị bản, trong đó có nhiều chi tiết còn mâu thuẫn. Nổi tiếng hơn cả là bản kể theo những tài tiệu của nhà sử học Ngô Quân (469-520).

Vì số cung phi trong hậu cung của vua Nguyên Đế quá đông, nên nhà vua ra lệnh cho các họa sĩ phải vẽ hình các cung phi để nhà vua chọn. Các cung phi thường lo lót tiền cho họa sĩ để được vẽ cho đẹp, mong vua để ý tới. Chiêu Quân từ chối đút lót cho họa sĩ là Mao Diên Thọ, hậu quả bức chân dung nàng thật xấu xí, nàng không được Hán Nguyên Đế để mắt tới.

Một hôm hoàng hậu tình cờ biết tới Chiêu Quân qua tiếng đàn lâm ly ai oán của nàng. Bà đưa Chiêu Quân tới gặp Hán Nguyên Đế. Hán Nguyên Đế ngỡ ngàng vì sắc đẹp của nàng, phong Chiêu Quân làm Tây phi. Mao Diên Thọ bị khiển trách nặng nề.

Thời bấy giờ Hung Nô là nước lân bang thường xuyên mang quân sang quấy nhiễu. Mao Diên Thọ bị Hán Nguyên Đế quở trách, đem lòng oán hận Chiêu Quân, lấy chân dung Chiêu Quân nạp cho thiền vu (vua) Hung Nô là Hô Hàn Tà (呼韓邪). Vua Hung Nô say đắm sắc đẹp của nàng, cất quân sang đánh, buộc Hán Nguyên Đế phải cống nạp Chiêu Quân thì mới bãi binh. Hán Nguyên Đế đành phải đem Chiêu Quân sang cho Hung Nô. Điểm này không khớp với lịch sử Hung Nô, do từ thời Hô Hàn Tà thì các thiền vu đã chịu nộp cống phẩm cho nhà Hán.

Truyền thuyết "Chiêu quân xuất tái" (昭君出塞, "Đi đến biên cương") nói rằng, khi Chiêu Quân đi ngang một hoang mạc lớn, lòng nàng chan chứa nỗi buồn vận mệnh cũng như lìa xa quê hương. Nhân lúc ngồi lưng ngựa buồn u uất, liền đàn "Xuất tái khúc". Có một con ngỗng trời bay ngang, nghe nỗi u oán cảm thương trong khúc điệu liền ruột gan đứt đoạn và sa xuống đất. Từ "lạc nhạn" trong câu "Trầm ngư lạc nhạn" do đó mà có.
Khi qua Nhạn Môn Quan, cửa ải cuối cùng, Chiêu Quân được cho là đã cảm tác nhiều bài thơ rất cảm động. Tiếng đàn của Chiêu Quân ở Nhạn Môn Quan trở thành điển tích Hồ Cầm.

Ngôi làng quê hương của nàng ngày nay mang tên là làng Chiêu Quân. Dòng suối, nơi tương truyền nàng từng ra giặt vải trước khi được tuyển vào hoàng cung, được đặt tên là Hương Khê (suối thơm) để tưởng nhớ nàng. Trong miền Nội Mông Cổ có hai địa điểm được cho là mộ của Chiêu Quân, một gần Hohhot và một gần Bao Đầu, cả hai đều xanh ngắt cỏ tươi, nên đều được gọi là Thanh Trủng (mồ xanh).

Những chi tiết còn mâu thuẫn.

* Khi vẽ Chiêu Quân, có thuyết cho rằng Mao Diên Thọ đã vẽ thêm một nốt ruồi dưới khóe mắt và tâu với Hán Nguyên Đế đó là "Sát phu trích lệ", tướng sát chồng. Vì vậy Hán Nguyên Đế không cho vời nàng tới tận khi Chiêu Quân bị cống sang Hung Nô. Một thuyết khác thì Chiêu Quân tài hoa tự vẽ chân dung của mình, nhưng bức tranh đó bị Mao Diện Thọ điểm thêm nốt ruồi "Sát phu trích lệ".
* Nhà văn nổi tiếng Thái Ung (132-192) cho rằng vua Nguyên Đế đã từng gặp Chiêu Quân, nhưng không biết cảm nhận vẻ đẹp của nàng. Chiêu Quân vô cùng thất vọng và đau khổ sau nhiều năm sống cô độc trong cung cấm. Từ đó, Thái Ung kết luận rằng quyết định sang Hung Nô của Chiêu Quân là một hành động phản kháng lại vua Nguyên Đế.
* Về cái chết của Chiêu Quân cũng có nhiều giả thuyết.

1. Đến Nhạn Môn Quan, Chiêu Quân gieo mình xuống sông tự vẫn.
2. Chiêu Quân đến đất Hồ, nàng yêu cầu vua Hồ giết chết gian thần Mao Diên Thọ, rồi sau đó nàng tìm cách tự tử, nhảy xuống sông để xác nàng theo dòng trôi trở về đất Trung Nguyên.
3. Một thuyết khác cho rằng Chiêu Quân đã sống một thời gian dài bên Hung Nô.

Chiêu Quân trong thi ca, nghệ thuật.

Những tác phẩm thơ ca viết về Chiêu Quân xuất hiện vào khoảng từ đầu thế kỷ 7 đến cuối thế kỷ 13, thường dựa trên những dị bản của Ngô Quân. Đa số đều nói về sự ra đi cùng nỗi oán hận của nàng. Chiêu Quân thường xuất hiện với một vẻ đẹp u buồn, choàng khăn đỏ, mặc áo lông, ôm đàn tỳ bà, cùng với một con bạch mã.

Nhà thơ Lý Bạch viết hai bài thơ về Chiêu Quân

Vương Chiêu Quân 1

Hán gia Tần địa nguyệt,
Lưu ảnh chiếu Minh Phi.
Nhất thướng Ngọc Quan đạo,
Thiên nhai khứ bất quy.
Hán nguyệt hoàn tòng Đông hải xuất,
Minh Phi tây giá vô lai nhật.
Yên Chi trường hàn tuyết tác hoa,
Nga my tiều tụy một Hồ sa.
Sinh phạp hoàng kim uổng đồ họa,
Tử lưu thanh trủng sử nhân ta.


Trúc Khê dịch

Xứ Tần trăng sáng tỏ,
Dõi bóng chiếu Minh Phi.
Một lên đường ải Ngọc,
Bên trời biền biệt đi.
Trăng Hán vẫn mọc ngoài Đông Hải,
Minh Phi sang Hồ không trở lại.
Lạnh lùng hoa tuyết núi Yên Chi,
Cát bụi bay mù ngập thúy mi.
Sống thiếu cân vàng tranh vẽ nhọ,
Chết phơi nấm đất cỏ xanh rì.




Vương Chiêu Quân 2

Chiêu Quân phất ngọc an
Thướng mã đề hồng giáp
Kim nhật Hán cung nhân
Minh triêu Hồ địa thiếp.

Đỗ Phủ cũng để lại những bình phẩm sâu sắc qua bài Vịnh hoài cổ tích

Vịnh hoài cổ tích

Nghìn non vạn suối tới Kinh Môn
Quê quán Minh Phi vẫn hãy còn
Đài tía bước ra nơi sóc mạc
Nấm mồ gửi lại bóng hoàng hôn
Vẻ xuân tranh cổ phôi pha nét
Gót ngọc đêm trăng phảng phất hồn
Đàn phổ tiếng Hồ muôn thuở đó
Tỳ bà oán hận mạch sầu tuôn.

Nhà cải cách Vương An Thạch đã viết hai bài thơ về Chiêu Quân, đưa ra những cách nhìn nhận khá độc đáo. Một trong hai bài đó:

Từ ấy nàng xa chốn Hán cung
Tóc mai gió thổi lệ xuân nồng
Dung nhan nhìn lại bơ phờ quá
Thiên tử muôn trùng luống khổ tâm!
Oán trách nhầm tay họa sĩ hèn
Sắc đẹp xưa nay chẳng thấy quen
Thần thái trời sinh ai vẽ nổi?
Mao Diên Thọ chết vẫn còn oan.
Một đi đi mãi, đáng thương thay!
Áo Hán cung xưa vẫn mặc dày
Phương nam thư gửi về quan ải
Chỉ thấy năm dài cánh nhạn bay.
Người nhà muôn dặm nhắn tin cùng
Ở lại chiên thành chớ ngóng trông
A Kiều khóa chặt Trường Môn đó
Nam bắc nào ai được thỏa lòng?


Một vài bài thơ khác

Chiêu Quân Từ của Bạch Cư Dị

Hán sứ khướt hồi bằng ký ngữ
Hoàng kim hà nhật thục nga my
Quân vương nhược vấn thiếp nhan sắc
Mạc đạo bất như cung lý thì

Vương Chiêu Quân của Thôi Quốc Phụ

Nhất hồi vọng nguyệt nhất hồi bi
Vọng nguyệt nguyệt di nhân bất di
Hà thì đắc kiến Hán triều sứ
Vị thiếp truyền thư trảm họa sư.

Chiêu Quân của Quang Dũng

Tuyết lạnh che mờ trời Hán Quốc
Tỳ bà lanh lảnh buốt cung Thương
Tang tình năm ngón sầu dâng lệ
Chiêu Quân sang Hồ xừ hồ xang

Đây Nhạn Môn Quan đường ải vắng
Trường Thành xa lắm Hán Vương ơi!
Chiêu Quân che khép mền chiên bạch
Gió bấc trời Phiên thấm lạnh rồi

Ngó lại xanh xanh triều Hán Đế
Từng hàng châu lệ thấm chiên nhung
Quân vương chắc cũng say và khóc
Ái khanh! Ái khanh! Lời nghẹn ngùng

Hồ xang hồ xang xự hồ xang
Chiêu Quân nàng ơi lệ dâng hàng
Lã chã trời Phiên mưa tuyết xuống
Chiêu Quân sang Hồ, xừ hồ xang.

Sân khấu.

Từ thế kỷ 13 đã xuất hiện nhiều tác phẩm kịch nghệ về Chiêu Quân. Kịch tác gia nổi tiếng Mã Trí Viễn (1252-1321) dẫn đầu với vở kịch Hán Cung Thu, tập trung vào chủ đề bảo vệ đất nước. Khi người Hung Nô đe dọa biên cương nhà Hán, triều đình, đứng đầu là vua Nguyên Đế, không tìm được một phương sách hiệu quả nào. Chiêu Quân được miêu tả như một người phụ nữ thông minh tuyệt đỉnh, luôn hết lòng vì hòa bình và sự bảo tồn giang sơn nhà Hán. Nàng hoàn toàn tương phản với vị hoàng đế kém cỏi và hèn nhát, viên thừa tướng thối nát bất tài, và tên thợ vẽ tư lợi Mao Diên Thọ. Tiếc thay, vở kịch có chỗ còn chưa đạt. Hai phần ba nội dung của kịch được dành để nói về chuyện tình giữa hoàng đế và người cung phi, làm giảm đi hình ảnh anh hùng của Chiêu Quân.

Vào thời hiện đại, học giả Quách Mạt Nhược (1892-1978) đã sáng tác một vở kịch mang tên Vương Chiêu Quân, miêu tả bi kịch của Chiêu Quân như là hậu quả của mâu thuẫn giữa tinh thần dũng cảm và khao khát tự do của nàng và những âm mưu đen tối của Nguyên Đế và Mao Diên Thọ.

 
recommander par lolond ajouter un commentaire
commentaires (0)   

Samedi 12 avril 2008
publié dans : CHINE-CULTURE
Thôi Hộ  - Đề đô thành nam trang

題都城南莊

去年今日此門中,
人面桃花相映紅。
人面不知何處去?
桃花依舊笑春風。


Đề đô thành nam trang

Khứ niên kim nhật thử môn trung,
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
Đào hoa y cựu tiếu
xuân phong.


Thơ đề ở ấp phía nam đô thành
(Người dịch: Tản Đà)


Cửa đây năm ngoái cũng ngày này,
Má phấn, hoa đào ửng đỏ hây.
Má phấn giờ đâu, đâu vắng tá,
Hoa đào còn bỡn gió xuân đây.

Thôi Hộ đời Đường nhân tiết thanh minh một mình đi chơi về phía nam đô thành, thấy một ấp trại chung quanh đầy hoa đào. Thôi Hộ gõ cửa xin nước uống, một người con gái mở cổng, hỏi tên họ rồi bưng nước đến, người con gái sắc đẹp đậm đà, duyên dáng, tình ý, dịu dàng kín đáo. Năm sau, cũng vào tiết Thanh minh, Thôi Hộ lại đến tìm người cũ thì cửa đóng then cài, nhân đó mới đề lên cánh cửa bên trái bài thơ này. Người con gái xem thơ, nhớ thương rồi ốm chết. Chợt thôi Hộ đến, nghe tiếng khóc bèn chạy vào ôm thây mà khóc. Người con gái bỗng hồi tỉnh rồi sống lại. Ông bố bèn đem cô gái gả cho Thôi Hộ (Tình sử, Phùng Mộng Long). Cũng từ điển này, người ta thường ví mặt người con gái đẹp với hoa đào.




recommander par lolond ajouter un commentaire
commentaires (0)   

Dimanche 6 avril 2008
publié dans : CHINE-CULTURE


Đạo khả Đạo phi thường Đạo,
Danh khả Danh phi thường Danh.
Vô Danh Thiên Địa chi thủy,
Hữu danh vạn vật chi mẫu. 

Đạo nói được không phải là Đạo thường,
Danh gọi được không phải là Danh thường.
Vô Danh (không tên) là đầu của Trời Đất,
Hữu Danh (có tên) là mẹ của muôn vật


La voie qui peut être exprimée par la parole n'est pas la Voie éternelle ;

le nom qui peut être nommé n'est pas le Nom éternel.
(L'être) sans nom est l'origine du ciel et de la terre ;

avec un nom, il est la mère de toutes choses.

 



recommander par lolond ajouter un commentaire
commentaires (0)   

Lundi 31 mars 2008
publié dans : CHINE-CULTURE
Vọng giang lâu thượng tác

Nguyên tác: Bạch Cư Dị


望 江 樓 上 作

江 畔 百 尺 樓
樓 前 千 里 道
憑 高 望 平 遠
亦 足 舒 懷 抱
驛 路 使 憧 憧
關 防 兵 草 草
及 茲 多 事 日
猶 覺 閒 人 好
我 年 過 不 惑
休 退 誠 非 早
從 此 拂 塵 衣
歸 山 未 為 老


Giang bạn bách xích lâu,
Lâu tiền thiên lý đạo.
Bằng cao vọng bình viễn,
Diệc túc thư hoài bão.
Dịch lộ sứ đồng đồng.
Quan phòng binh thảo thảo.
Cập tư đa sự nhật,
Do giác nhàn nhân hảo.
Ngã niên quá bất hoặc,
Hưu thoái thành phi tảo.
Tòng thử phất trần y.
Qui sơn vị vi lão.

Bản dịch của Tản Đà

Trên lầu trông ra sông

Bờ sông trăm thước lầu cao,
Trước lầu nghìn dặm đi đâu con đường?
Tựa cao trông xuống dặm trường,
Mà trong bụng nghĩ như nhường khoan thư.
Đường quan rộn kẻ đưa thư,
Quân gia láo nháo ngẩn ngơ canh phòng.
Cuộc đời gặp lúc rối tung,
Riêng ai ở cảnh thong dong càng mầu.
Đã hơn bốn chục tuổi đầu,
Từ nay về nghỉ ngõ hầu phải thôi.
Từ nay giũ áo trần ai.
Non xanh tình thú vui chơi chửa già..

recommander par lolond ajouter un commentaire
commentaires (0)   

Mercredi 27 février 2008
publié dans : CHINE-CULTURE

Dương Quý Phi.

Năm 756, Dương Quý Phi bị buộc thắt cổ tự vẫn ở Mã Nhĩ Ba. Và từ đó câu chuyện tình của nàng khắc sâu lời thóa mạ của hậu thế " Hồng nhan hoa thuỷ". Có phải vì nàng mà xảy ra loạn An Sử khủng khiếp trong suốt 8 năm làm chết 7/10 dân TQ. Lỗ Tấn nói:" tôi ko tin cách nói xưa nay là ... Đắc Kỷ làm mất nhà Thương, Tây thi là mất nước Ngô, Dương Quý Phi làm loạn nhà Đường... trong xã hội nam quyền người phụ nữ đâu có được sức mạnh như thế, hưng vong của quốc gia đều do đàn ông gánh chịu".

duongQuiPhi1.jpg Dương Ngọc Hoàn sinh ra trong một gia đình quan nhỏ ở vùng đất Thục Châu non xanh nước biếc. Từ nhỏ nàng đã mang đậm tính ngây thơ và hoạt bát của người con gái. Đến khi được Huyền Tông Hoàng Đế sủng ái nàng cũng không hề gây ra điều tiếng, không dựa vào quyền lực của mình để nâng đỡ người thân trong gia đình mà chỉ suốt ngày theo vui tìm thú, một lòng hưởng thụ cuộc sống vinh hoa không lo không nghĩ. Nàng không can dự đến quốc gia đại sự. Huyền Tông hoàng đế sủng ái nàng trước hết là vì nàng đẹp, sau nữa là vì khả năng cảm thụ âm nhạc của nàng, có thể cộng minh với ông. Họ yêu nhau say đắm một phân một tấc cũng không muốn rời nhau. Tình yêu của họ vượt qua khỏi giới hạn tuổi tác, Huyền Tông yêu chiều nàng một phần vì nàng là ái phi, nmột phần lại có sự nũng nịu của coi gái, tình cảm của họ đâu phải là Hoàng đế với phi tử chỉ là người mình yêu và người ta cũng yêu mình vậy thôi. Trải qua hai lần sóng gió tình cảm của họ càng thăng hoa. Chỉ vì quá say đắm nàng mà ông bỏ bê việc triều chính. Dư luận luôn công kích Dương Ngọc Hoàn mà không cần biết nàng có làm gì hay không. Nàng chỉ sống trong thâm cung, một lòng hưởng thụ tình yêu và sự sủng ái của Hoàng thượng nên nàng làm sao biết gia tộc nàng đã làm gì bên ngoài. Việc Dương Quốc Trung cậy quyền cậy thế chẳng qua cũng là vì Huyền Tông quá sủng ái nàng mà tin tưởng giao toàn bộ việc triều chính, Dương Ngọc Hoàn hoàn toàn không can dự vào việc đó mà.
An Lộc Sơn tạo phản là do có hiềm khích với Dương Quốc Trung thôi, hoàn toàn không dính dáng đến Dương Ngọc Hoàn. Thế mà khi cấm quân nổi loạn lại buộc Huyền tông phải xử tử nàng vì nàng là mầm móng của mọi tai hoạ, lại phải mang tiếng Hồng nhan họa thuỷ. Nàng đã hi sinh bản thân mình để bảo vệ người mà nàng yêu thương nhất, với tấm lòng như thế nàng thật đáng để hậu thế tôn vinh.

Nguyễn Du lúc đi sứ sang Trung Quốc cảm hứng làm nên bài :

Ðưng Phi (1) c

Sôn vaân töôùc löôïc ngaïn hoa minh
Kieán thuyeát Döông Phi thöû ñòa sinh
Töï thò  cöû trieàu khoâng laäp tröôïng (2)
Uoång giao thieân coå toäi khuynh thaønh
Tieâêu tieâêu Nam Noäi (3) bôøng cao bieán
Mòch mòch Taâây Giao (4) khaáu luõng bình
Lang taï taøn hoàng voâ mòch xöùÙ
Ñoâng phong thaønh haï baát thaêng tình.

Dòch nghóa :

Laøng cuõ Döông Quí  Phi

Mâaây nuùi thöa thôùt, hoa beân bôø saùng roõDoungQuiPhi3.jpg
Nghe noùi Döông Quí Phi sinh ôû ñaát naøy
Töø ñaáy caû trieàu ñöùng phoãng nhöb haøng gaäy
Ñeå nghìn naêm ñoå oan cho ngöôøi ñeïp toõi nghieïng thaønh
Cung Nam Noäi hiu ht, coû boàng cao moïc traøn
Ñoáng Taây vaéng laëng, goø ñoáng san baèng
Caùnh hoàng taøn tôi taû bieát tìm ñaâu
Döôùi thaønh gioù ñoïng thoåi, loøng ngaäm nguøi bieát bao

 

Maây ngaøn hao beán nöôùc lung linh
Döông Quyù Phi xöa ñaát aáy sinh
Bôûi noåi caû trieàu taøi phoãng ñaù
Ñeå cho muoân thuôû toäi nghieâng thaønh
Caám cung boû pheá, boàng hui haét
Moà cuï san bang, caûnh va&ng tanh
Gioù laïnh döôùi thaønh ngô ngaån boùng

Tìm ñaâu cho thaáy caùnh hoa taøn.

Chuù thích :
1 Döông Quí Phi - töùc Döông Ngoïc Hoaøn laø quyù phi cuaû Ñöôøng Minh Hoaøng. Queâ ôû laøng Hoaøng Noâng, huyeän Hoøa AÂm, tænh Thieåm Taây ngaøy nay. An Loäc Sôn noåi loaïn, Ñöôøng Minh Hoaøng phaûi chaïy vaøo ñaùt Thuïc. Ñeán ñeøo Maï Ngoâi, quaân lính ñoøi gieát Döông Quí Phi vaø anh hoï Döông Quoác Trung, laø nhöõng ngöôûi laøm Ñöôøng Minh Hoaøng meâ muoäi maø maát nöôùc (Uoång giao thieân coå toäi khuynh thaønh). Döông Quí Phi bò thaét coå cheát ôû ñaây.  

2 Nam noäi - cung Höng Khaùnh, nôi Ñöôøng Minh Hoaøng vaø Döông Quí Phi thöôøng ra chôi.

2 Laäp tröôïng – Ñöùng nhö caây gaäy. Do leä ñôøi Ñöôøng, coù taùm con ngöïa phaûi ñöùng chaàu nhö haøng gaäy. Con naøo ñuïng ñaäy thì phaûi thay theá.

3 Tâaây Giao - Caùnh ñoàng ôû phía taây Traøng An, chæ caùnh ñoàng Maõ Ngoâi nôi Döông Quí bò thaét coå cheát.

4 Taøn hoàng - Buøi Daùng dòch :

Troâng vôøi hoàng ruïng ngoån ngang,

Tìm ñaâu choán cuû muoân vaøn döôùi kia.


Ancien village de Duong Qui Phi (1)

 

Les nuages montagneux sont clairsemés ; au bord de l'eau, les fleurs brillent
On dit que la favorite Duong Qui Phi était née ici
Depuis lors, la cour impériale se tenait immobile (impuissante) comme des bâtons
A tel point que la beauté éternelle fût condamnée à tort pour avoir ruiné le royaume
Le palais du Sud Nam-noi est désert, envahi par les herbes folles
Le silence règne dans les champs de l'Ouest Tay-Giao, les tombes complètement rasées
Où retrouver maintenant les traces des roses dispersées
Seul au pieds du rempart exposé au vent d'hiver, je suis ému jusqu'aux larmes

 

Notes
1 Duong Qui Phi : Yang Kouei-fei, favorite de l'empereur Duong Minh Hoang de la dynastie T'ang (712-756).


Sắc đẹp của nàng đã làm cho một đại thi hào lúc bấy giờ là Lý Bạch phải ca tụng bằng ba bài "Thanh bình điệu". Đây là bài thứ nhứt : 

 

DoungQuiPhi2.jpgThanh bình điu I

Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung,
Xuân phong phật hạm, lộ hoa nùng.

Nhược chi quần ngọc sơn đầu kiến,

Hội hướng Đao đài nguyệt hạ phùng.

 
Ngô Tất Tố dịch 

Thoáng bóng mây hoa, nhớ bóng hồng.
Gió xuân dìu dặt giọt sương trong
Ví chăng non ngọc không nhìn thấy,
Dưới nguyệt đài Dao thử ngóng trông.


L’histoire est fascinée par plusieurs artistes orientaux et occidentaux comme le japonais INOUE Yasushi avec La Favorite et Le roman de Yang Kouei-fei ou Pierre Boulez avec « Le Crépuscule de Yang Koueï-Fei », musique pour la pièce radiophonique de Louise Fauré [inédit]

 

 

 



recommander par lolond ajouter un commentaire
commentaires (0)   

Jeudi 31 janvier 2008
publié dans : CHINE-CULTURE

Haøng naêm ñeán ngaøy Teát, ta hoïc ñoøi ngaâm nga thô Ñöôøng. Moâi löùa tuoåi thöôûng thöùc Thô Ñöôøng theo kinh nghieäm.


Ngöôøi cao tui ngaâm nga Thơ Đường để ngược dòng thời gian, lùi vào hoài niệm, ngẫm nghĩ lại sự đời.

Người trung niên, Thơ Đường là những triết lý sâu sắc, những tình cảm nồng hậu, những chân lý sâu xa của cuộc đời mà họ đang trên hành trình kiếm tìm và trải nghiệm.

Người trẻ tuổi, cái xúc cảm bỡ ngỡ ban đầu về những vận luật khắt khe, những cấu tứ khuôn mẫu ngột ngạt nhanh chóng qua đi nhường chỗ cho sự kinh ngạc và thán phục trước sự hàm súc của thi ca. Dù chưa hiểu hết được cái hay, cái đẹp của tứ thơ.

Hoâm nay, thôøi Teát ñoïc laïi vaøi ñoaïn Thô Ñöôøng :

Tiễn
biệt - Vương Xương Linh (698-757)

Mạc đạo thu giang ly biệt nan
Châu thuyền minh nhật thị Trường An
Ngô cỏ hoãn vũ lưu quân tuý
Tuỳ ý thanh phong bạch lộ hàn


Tiễn biệt - Lý Bình Sự

Không ai biết biệt ly trên sông thu khó khăn nhường nào
Thuyền nhẹ ngày mai đã ở Trường An
Người đẹp nước Ngô ngừng múa giữ người say
Mặc cho sương lạnh phủ trắng cây phong xanh


Phong Kiều Dạ Bạc - Trương Kế

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

 

Bản Dịch (Tản Đà)

Trăng tà tiếng quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.

Bài từ Phong kiều Dạ bạc của Trương Kế ra đời trong một hoàn cảnh rất đặc biệt.
Trương Kế là một thư sinh ở miền quê khăn gói lên kinh thành để dự cuộc thi lớn .Nhưng chẳng may chàng đã thi trượt kỳ thi quan trọng này .Trên đường trở về quê quán chàng đã dừng chân ở bến Cô Tô vào một chiều hoàng hôn ,con thuyền của chàng đậu lại qua đêm để chờ con nước. Đêm ấy chàng trằn trọc mãi không ngủ được,một phần vì xa quê nhà đã lâu buồn cho số phận hẩm hiu của mình . Chàng bước ra khoang thuyền ngước mắt nhìn lên bầu trời thấy ánh trăng bị mây mù che khuất và trong đêm vắng tiếng Quạ kêu thật não lòng thỉnh thoảng lại nghe tiếng chuông Chùa từ xa vọng đến, phía bên kia sông có ánh lửa của những chiếc thuyền chài lập loè trong đêm tối .Trong một không gian và cảnh vật buồn bã thê lương chàng ngâm lên bốn câu thơ và không ngờ đã để lại cho hậu thế bài thơ tứ tuyệt nổi tiếng đến như vậy.
Và về sau vào đời Đường , chính tay thi sỉ Tô Đông Pha đã khắc lại bài thơ này trên bức vách của chùa Hàn San .
Ngày nay Cô Tô là điểm du lịch nổi tiếng của Trung Quốc ,du khách đến đây đều ghé thăm chùa Hàn San để tận mắt nhìn thấy bài thơ này qua phán bút tuyệt vời của thi sỉ Tô Đông Pha .

(source Wikipedia VN).

Tô Châu (Giản thể: , Phồn thể: 蘇州; Bính âm: Sūzhōu; tên cổ: 吳-Ngô) là một thành phố với một lịch sử lâu đời nằm ở hạ lưu sông Dương Tử và trên bờ Thái Hồ thuộc tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Thành phố này nổi tiếng vì những cầu đá đẹp, chùa chiền và các khu vườn (viên lâm) được thiết kế tỉ mỉ, mà ngày nay chúng đã trở thành những điểm thu hút khách du lịch. Tô Châu cũng đã từng là một trung tâm quan trọng của công nghiệp sản xuất tơ lụa Trung Hoa kể từ thời kỳ nhà Tống (960-1279) cũng như tiếp tục nắm giữ vị trí nổi tiếng này trong thời gian gần đây. Thành phố này là một phần của Tam giác vàng thuộc Trung Quốc. Thành phố này đặc biệt nổi tiếng vì những khu vườn. Một số vườn cây cảnh cổ điển. Dân số: 6,06 triệu người (trong đó dân số nội thị 2,2 triệu), diện tích: 8.488 km². GDP trên đầu người của thành phố này là ¥66.826 (khoảng US$7.649) vào năm 2005, đứng hàng thứ năm trong số 659 thành phố Trung Quốc.

Tô Châu, các tên gọi cổ là Câu Ngô, Ngô, Cối Kê (會稽), Ngô Châu, Ngô Quận, Bình Giang Đẳng. Tô Châu còn có biệt danh là Ngô Đô, Ngô Hội, Ngô Môn, Đông Ngô, Ngô Trung, Ngô Hạ, Cô Tô, Trường Châu, Mậu Uyển Đẳng.

Tô Châu, cái nôi của văn hóa Ngô, là một trong những đô thị cổ nhất trong lưu vực sông Dương Tử. Khoảng 2.500 năm trước, các bộ lạc bản địa, tự gọi mình là "Câu Ngô" vào cuối thời kỳ nhà Thương đã sinh sống trong khu vực mà sau này gọi là Tô Châu.

Chuyết Chính viênVào thời kỳ cuối của nhà Thương, Thái Bá đã đến đây để lập ra nước Ngô, đóng kinh đô tại đây và gọi nó là Ngô thành. Năm 514 TCN, trong thời kỳ Xuân Thu, vua Hạp Lư (阖闾) của nước Ngô đã sai Ngũ Tử Tư xây dựng "Hạp Lư thành" (giới học giả cho là thuộc Tô Châu ngày nay) làm kinh đô của mình. Nước Ngô trọng dụng Tôn Vũ để phát triển quân đội, tiến đánh nước Tề ở phương bắc, xưng bá trung nguyên. Năm 496 TCN, Hạp Lư đã được mai táng tại Hổ Khâu (虎丘).

Chuyết Chính viên

Năm 473 TCN, nước Ngô bị nước Việt của Việt vương Câu Tiễn đánh bại. Tô Châu trở thành kinh đô của nước Việt. Năm 306 TCN, nước Việt lại bị nước Sở sáp nhập. Thời kỳ hoàng kim của Tô Châu đã qua đi. Các di tích của nền văn hóa này bao gồm các phần còn sót lại của các tường thành và cổng thành có niên đại 2.500 năm tuổi tại Bàn Môn (盘门).

Vào thời kỳ nhà Tần, thành phố này được biết dưới tên gọi Ngô huyện. Hạng Vũ (项羽) đã bắt đầu sự nổi dậy lịch sử của mình tại đây vào năm 209 TCN và nó đã góp phần vào sự sụp đổ nhanh chóng của nhà Tần.

Vào thời kỳ nhà Tùy, thành phố này đã được đổi tên thành Tô Châu vào năm 589.

Khi Đại Vận Hà được hoàn thành, Tô Châu nằm ở vị trí có tầm quan trọng chiến lược trên hành trình thương mại chính. Trong suốt lịch sử Trung Hoa nó đã là thủ phủ chính yếu của công nghiệp và thương mại ở khu vực ven biển thuộc miền đông nam Trung Quốc.

Trong thời kỳ nhà Đường, năm 825 nhà thơ lớn Bạch Cư Dị (白居易) đã cho xây dựng Sơn Đường nhai (山塘街) để nối thành phố này với Hổ Khâu phục vụ cho du khách. Thời kỳ nhà Tống (960-1279), tại Tô Châu đặt Bình Giang phủ, cai quản Chiết Giang tây đạo. Năm 1035, nhà thơ, nhà văn lớn kiêm chính trị gia Phạm Trọng Yêm (范仲淹) đã cho xây dựng Khổng miếu tại đây. Nó đã trở thành nơi để diễn ra các cuộc thi tuyển chọn quan lại cho triều đình.

Tháng Hai năm 1130, quân đội nhà Kim (11151234) tiến xuống phía nam đã phá hủy và thảm sát thành phố này. Năm 1275 quân đội nhà Nguyên (1271-1368) cũng đã tiến tới đây và đổi tên Tô Châu thành Bình Giang lộ. Cuối thời nhà Nguyên, Trương Sĩ Thành nổi dậy, tự xưng là Ngô vương, đổi Bình Giang lộ thành Long Bình phủ, lấy Tô Châu làm kinh đô. Năm 1367, quân đội của Chu Nguyên Chương công phá Tô Châu, phá hủy hoàng thành của Trương Sĩ Thành. Trương Sĩ Thành đầu hàng. Nhà Minh (1367-1644) đổi Long Bình phủ thành Tô Châu phủ, cho trực thuộc Nam Kinh. Thời kỳ nhà Thanh (1644-1911), Tô Châu là nơi đặt trụ sở của tuần phủ và bố chánh sứ Giang Tô.

Hình ảnh chụp gần của Chuyết Chính viên tại Tô ChâuTrong thời kỳ hai triều Minh-Thanh, thành phố này đã có nhiều thời kỳ thịnh vượng. Nhiều khu vườn nổi tiếng của các tư nhân đã được các tầng lớp quan lại và người giàu có xây dựng. Tuy nhiên, thành phố này cũng đã phải gánh chịu thảm họa vào năm 1860 khi binh lính của Thái Bình thiên quốc tiến vào chiếm giữ thành phố. Tháng 11 năm 1863, thường thắng quân dưới sự chỉ huy của Charles Gordon đã tái chiếm thành phố này từ tay Thái Bình thiên quốc.

Hình ảnh chụp gần của Chuyết Chính viên tại Tô Châu.



Khủng hoảng tiếp theo mà thành phố này vấp phải là sự xâm chiếm của người Nhật năm 19377. Nhiều khu vườn đã bị phá hủy vào cuối cuộc chiến. Đầu thập niên 1950, công việc khôi phục đã được tiến hành đối với Chuyết Chính viên, Đông viên và các khu vườn khác để đua chúng trở lại với cuộc sống.
Hàn Sơn Tự - Là một cổ sát (cảnh chùa xưa) nổi tiếng ở phía Tây trấn Phong-Kiều thuộc tỉnh Tô Châu. Ðược xây dựng vào niên hiệu Thiên-Giám đời Lương (502-519). Ban đầu chùa có tên là Diệu-Lợi Phổ-Minh Tháp-Viện. Tương truyền ngài Hàn-Sơn từng ở đây nên đổi tên là Hàn-Sơn Tự. Niên hiệu Thái-Bình Hưng-Quốc đời Tống, Tiết-độ Sứ Tôn-thừa-Hữu xây thêm một cái tháp 7 từng. Ðến cuối đời Nguyên, chùa và tháp đều hư hoại. Vào niên hiệu Hồng-Vũ đời Minh chùa được xây lại. Ðến niên hiệu Chánh-Thống, quan tri-phủ Huống-Chung tu sửa lại. Năm thứ 10 niên hiệu Hàm Phong đời Thanh, toàn bộ chùa phá hủy.
Năm 32 niên hiệu Quang Tự, quan Tuần-vũ Trần-Loan-Long cho sửa sang lại để bảo tồn cổ tích. Năm thứ 2 niên hiệu Tuyên-Thống, quan Tuần-vũ Trình-Ðức-Toàn nối tiếp việc trùng tu chùa và đổi tên là Cổ Hàn-Sơn Tự.

hs-dhbd.JPG - 39.9 K hs-dhbd2.JPG - 43.8 K
Ðại Hùng Bảo Ðìện (Chánh điện)


Trước và sau giải phóng, chùa đều bị phá hoại nặng nề. Sau 1980 chùa mới được tu sửa hoàn chỉnh như hiện nay.

Ở giữa thờ Phật Thích Ca, và hai ngài ngài Ca Diếp và A Nan. Hai bên thờ thập bát La Hán (đúc vào niên hiệu Thành-Hoá đời Minh) Trên bức tường phía sau có bức họa khắc lên đá 'Hàn Sơn Thập Ðắc' của danh họa gia đời Thanh La-Sính-Sở. Tường bên phải cũng có bức hoạ khắc lên đá 'Phong-Can' của danh họa đời Thanh Trịnh-Văn-Trác. Hàn-Sơn, Thập-Ðắc, Phong-Can được xưng tụng là Thiên-Thai Tam-Thánh. Phía bên phải có treo một cái chuông đồng do người Nhật đúc đời Minh Trị.
hs-td.JPG - 53.3 K
Tượng ngài Thập Ðắc tại Hàn Sơn tự

hs-lk.JPG - 44.8 K


Tàng kinh lâu:
(lầu chứa kinh) Trên lầu để một bộ Ðại-Tạng Kinh hoàn chỉnh trân quý khắc in đời Thanh. Dưới lầu, trên hai vách đều có khắc đá toàn bộ Kinh Kim Cương do thư pháp gia nổi danh Trương-Xư-Liêu đời Tống viết. Nét bút rắn rỏi độc đáo, thật là một di tích quý giá.
 







hs-lc.JPG - 43.8 K

Chung lâu:
(lầu chuông) Lầu do quan Tuân-vũ Trần-Loan-Long xây vào niên hiệu Quang-Tự đời Thanh, ông cho đúc một quả chuông bằng sắt rồi treo lên đó. Dưới lầu có bài ký 'Trùng tu Hàn-Sơn Thi Kỷ' khắc vào bia đá, do thư-pháp-gia Hà-Duy-Bội viết.






anti
recommander par lolond ajouter un commentaire
commentaires (0)   

Présentation

Calendrier

Juillet 2008
L M M J V S D
  1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31      
<< < > >>

W3C

  • Feed RSS 2.0
  • Feed ATOM 1.0
  • Feed RSS 2.0
 
depot nom domaine sur over-blog.com - Contact - C.G.U. - Rémunération en droits d'auteur avec TF1 Network - Signaler un abus