Haøng naêm ñeán ngaøy Teát, ta hoïc ñoøi ngaâm nga thô Ñöôøng. Moâi löùa tuoåi thöôûng thöùc Thô Ñöôøng theo kinh
nghieäm.
Ngöôøi cao tuổi
ngaâm nga Thơ Đường để ngược dòng thời gian, lùi vào hoài niệm, ngẫm nghĩ lại sự đời.
Người trung niên, Thơ Đường là những triết lý sâu sắc, những tình cảm nồng hậu, những chân lý sâu xa của cuộc đời mà họ đang trên hành trình kiếm tìm và trải nghiệm.
Người trẻ tuổi, cái xúc cảm bỡ ngỡ ban đầu về những vận luật khắt khe, những cấu tứ khuôn mẫu ngột ngạt nhanh chóng qua đi nhường chỗ cho sự kinh ngạc và thán phục trước sự hàm súc của thi ca. Dù
chưa hiểu hết được cái hay, cái đẹp của tứ thơ.
Hoâm nay,
thôøi Teát ñoïc laïi vaøi ñoaïn Thô Ñöôøng :
Tiễn biệt - Vương Xương Linh (698-757)
Mạc đạo thu giang ly biệt nan
Châu thuyền minh nhật thị Trường An
Ngô cỏ hoãn vũ lưu quân tuý
Tuỳ ý thanh phong bạch lộ hàn
Tiễn biệt - Lý Bình Sự
Không ai biết biệt ly trên sông thu khó khăn nhường nào
Thuyền nhẹ ngày mai đã ở Trường An
Người đẹp nước Ngô ngừng múa giữ người say
Mặc cho sương lạnh phủ trắng cây phong xanh
Phong Kiều Dạ Bạc - Trương Kế
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Bản Dịch (Tản Đà)
Trăng tà tiếng quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.
Bài từ Phong kiều Dạ bạc của Trương Kế ra đời trong một hoàn cảnh rất đặc
biệt.
Trương Kế là một thư sinh ở miền quê khăn gói lên kinh thành để dự cuộc thi lớn .Nhưng chẳng may chàng đã thi trượt kỳ thi quan trọng này .Trên đường trở về quê quán chàng đã dừng chân ở bến Cô
Tô vào một chiều hoàng hôn ,con thuyền của chàng đậu lại qua đêm để chờ con nước. Đêm ấy chàng trằn trọc mãi không ngủ được,một phần vì xa quê nhà đã lâu buồn cho số phận hẩm hiu của mình . Chàng
bước ra khoang thuyền ngước mắt nhìn lên bầu trời thấy ánh trăng bị mây mù che khuất và trong đêm vắng tiếng Quạ kêu thật não lòng thỉnh thoảng lại nghe tiếng chuông Chùa từ xa vọng đến, phía bên
kia sông có ánh lửa của những chiếc thuyền chài lập loè trong đêm tối .Trong một không gian và cảnh vật buồn bã thê lương chàng ngâm lên bốn câu thơ và không ngờ đã để lại cho hậu thế bài thơ tứ
tuyệt nổi tiếng đến như vậy.
Và về sau vào đời Đường , chính tay thi sỉ Tô Đông Pha đã khắc lại bài thơ này trên bức vách của chùa Hàn San .
Ngày nay Cô Tô là điểm du lịch nổi tiếng của Trung Quốc ,du khách đến đây đều ghé thăm chùa Hàn San để tận mắt nhìn thấy bài thơ này qua phán bút tuyệt vời của thi sỉ Tô Đông Pha .
(source Wikipedia VN).
Tô Châu (Giản thể: 苏, Phồn thể: 蘇州; Bính âm: Sūzhōu; tên
cổ: 吳-Ngô) là một thành phố với một lịch sử lâu đời nằm ở hạ lưu sông Dương Tử và trên bờ Thái Hồ thuộc tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Thành phố này nổi tiếng vì những cầu đá đẹp, chùa chiền và các
khu vườn (viên lâm) được thiết kế tỉ mỉ, mà ngày nay chúng đã trở thành những điểm thu hút khách du lịch. Tô Châu cũng đã từng là một trung tâm quan trọng của công nghiệp sản xuất tơ lụa Trung Hoa kể từ thời kỳ nhà Tống (960-1279) cũng như tiếp tục nắm giữ vị trí nổi tiếng này trong thời gian gần đây. Thành phố
này là một phần của Tam giác vàng thuộc Trung Quốc. Thành phố này đặc biệt nổi tiếng vì những khu vườn. Một số vườn cây cảnh cổ điển. Dân số: 6,06 triệu người (trong đó
dân số nội thị 2,2 triệu), diện tích: 8.488 km². GDP trên đầu người của thành phố này là ¥66.826 (khoảng US$7.649) vào năm 2005, đứng hàng thứ năm trong số 659 thành phố Trung
Quốc.
Tô Châu, các tên gọi cổ là Câu Ngô, Ngô, Cối Kê (會稽), Ngô Châu, Ngô Quận, Bình Giang Đẳng. Tô Châu còn có
biệt danh là Ngô Đô, Ngô Hội, Ngô Môn, Đông Ngô, Ngô Trung, Ngô Hạ, Cô Tô, Trường Châu, Mậu Uyển Đẳng.
Tô Châu, cái nôi của văn hóa Ngô, là một trong những đô thị cổ nhất trong lưu vực sông Dương Tử. Khoảng
2.500 năm trước, các bộ lạc bản địa, tự gọi mình là "Câu Ngô" vào cuối thời kỳ nhà Thương đã sinh sống trong khu vực mà sau này gọi là Tô Châu.
Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, Thái Bá đã đến đây để lập ra nước Ngô, đóng kinh đô tại đây và
gọi nó là Ngô thành. Năm 514 TCN, trong thời kỳ Xuân Thu, vua Hạp Lư (阖闾) của nước Ngô đã sai Ngũ Tử Tư xây dựng "Hạp Lư thành" (giới học giả cho
là thuộc Tô Châu ngày nay) làm kinh đô của mình. Nước Ngô trọng dụng Tôn Vũ để phát triển quân đội, tiến đánh nước Tề ở phương bắc, xưng bá trung nguyên. Năm 496 TCN, Hạp
Lư đã được mai táng tại Hổ Khâu (虎丘).
Năm 473 TCN, nước Ngô bị nước Việt của Việt vương Câu Tiễn đánh bại. Tô Châu trở
thành kinh đô của nước Việt. Năm 306 TCN, nước Việt lại bị nước Sở sáp nhập. Thời kỳ hoàng kim của Tô Châu đã qua đi. Các di tích của nền văn hóa này bao gồm các phần còn
sót lại của các tường thành và cổng thành có niên đại 2.500 năm tuổi tại Bàn Môn (盘门).
Vào thời kỳ nhà Tần, thành phố này được biết dưới tên gọi Ngô huyện. Hạng Vũ (项羽) đã bắt đầu sự nổi dậy lịch sử của mình tại đây
vào năm 209 TCN và nó đã góp phần vào sự sụp đổ nhanh chóng của nhà Tần.
Vào thời kỳ nhà Tùy, thành phố này đã được đổi tên thành Tô Châu vào năm 589.
Khi Đại Vận Hà được hoàn thành, Tô Châu nằm ở vị trí có tầm quan trọng chiến lược trên hành trình thương mại chính. Trong suốt
lịch sử Trung Hoa nó đã là thủ phủ chính yếu của công nghiệp và thương mại ở khu vực ven biển thuộc miền đông nam Trung Quốc.
Trong thời kỳ nhà Đường, năm 825 nhà thơ lớn Bạch Cư Dị (白居易) đã cho xây dựng Sơn Đường nhai (山塘街) để nối
thành phố này với Hổ Khâu phục vụ cho du khách. Thời kỳ nhà Tống (960-1279), tại Tô Châu đặt Bình Giang phủ, cai quản Chiết Giang tây đạo. Năm
1035, nhà thơ, nhà văn lớn kiêm chính trị gia Phạm Trọng Yêm (范仲淹) đã cho xây dựng Khổng miếu tại đây. Nó đã trở thành nơi để diễn ra các cuộc thi tuyển chọn quan lại cho
triều đình.
Tháng Hai năm 1130, quân đội nhà Kim (1115–1234) tiến
xuống phía nam đã phá hủy và thảm sát thành phố này. Năm 1275 quân đội nhà Nguyên (1271-1368) cũng đã tiến tới đây và
đổi tên Tô Châu thành Bình Giang lộ. Cuối thời nhà Nguyên, Trương Sĩ Thành nổi dậy, tự xưng là Ngô vương, đổi Bình Giang lộ thành Long Bình phủ, lấy Tô Châu làm kinh đô.
Năm 1367, quân đội của Chu Nguyên Chương công phá Tô Châu, phá hủy hoàng thành của Trương Sĩ Thành. Trương Sĩ Thành đầu hàng. Nhà Minh (1367-1644) đổi Long Bình phủ thành Tô Châu phủ, cho trực thuộc Nam Kinh. Thời kỳ nhà Thanh (1644-1911), Tô Châu là nơi đặt trụ sở
của tuần phủ và bố chánh sứ Giang Tô.
Trong thời kỳ hai triều
Minh-Thanh, thành phố này đã có nhiều thời kỳ thịnh vượng. Nhiều khu vườn nổi tiếng của các tư nhân đã được các tầng lớp quan lại và người giàu có xây dựng. Tuy nhiên, thành phố này cũng đã phải
gánh chịu thảm họa vào năm 1860 khi binh lính của Thái Bình thiên quốc tiến vào chiếm giữ thành phố. Tháng 11 năm 1863, thường
thắng quân dưới sự chỉ huy của Charles Gordon đã tái chiếm thành phố này từ tay Thái Bình thiên quốc.
Hình ảnh chụp gần của Chuyết Chính viên tại Tô Châu.
Khủng hoảng tiếp theo mà thành phố này
vấp phải là sự xâm chiếm của người Nhật năm 19377. Nhiều khu vườn đã bị phá hủy vào cuối cuộc chiến. Đầu thập niên 1950, công việc khôi phục đã được tiến hành đối với Chuyết Chính viên, Đông viên
và các khu vườn khác để đua chúng trở lại với cuộc sống.
Hàn Sơn Tự - Là một cổ sát (cảnh chùa xưa) nổi tiếng ở phía Tây trấn Phong-Kiều thuộc
tỉnh Tô Châu. Ðược xây dựng vào niên hiệu Thiên-Giám đời Lương (502-519). Ban đầu chùa có tên là Diệu-Lợi Phổ-Minh Tháp-Viện. Tương truyền ngài Hàn-Sơn từng ở đây nên đổi tên là Hàn-Sơn Tự. Niên
hiệu Thái-Bình Hưng-Quốc đời Tống, Tiết-độ Sứ Tôn-thừa-Hữu xây thêm một cái tháp 7 từng. Ðến cuối đời Nguyên, chùa và tháp đều hư hoại. Vào niên hiệu Hồng-Vũ đời Minh chùa được xây lại. Ðến niên
hiệu Chánh-Thống, quan tri-phủ Huống-Chung tu sửa lại. Năm thứ 10 niên hiệu Hàm Phong đời Thanh, toàn bộ chùa phá hủy.
Năm 32 niên hiệu Quang Tự, quan Tuần-vũ Trần-Loan-Long cho sửa sang lại để bảo tồn cổ tích. Năm thứ 2 niên hiệu Tuyên-Thống, quan Tuần-vũ
Trình-Ðức-Toàn nối tiếp việc trùng tu chùa và đổi tên là Cổ Hàn-Sơn Tự.

Ðại Hùng Bảo Ðìện (Chánh điện)
Trước và sau giải phóng, chùa đều bị phá hoại nặng nề. Sau 1980 chùa mới được tu sửa hoàn chỉnh như hiện nay.
Ở giữa thờ Phật Thích Ca, và hai ngài ngài Ca Diếp và A Nan. Hai bên thờ thập bát La Hán (đúc vào niên hiệu Thành-Hoá đời Minh)
Trên bức tường phía sau có bức họa khắc lên đá 'Hàn Sơn Thập Ðắc' của danh họa gia đời Thanh La-Sính-Sở. Tường bên phải cũng có bức hoạ khắc lên đá 'Phong-Can' của danh họa đời Thanh
Trịnh-Văn-Trác. Hàn-Sơn, Thập-Ðắc, Phong-Can được xưng tụng là Thiên-Thai Tam-Thánh. Phía bên phải có treo một cái chuông đồng do người Nhật đúc đời Minh Trị.

Tượng ngài Thập Ðắc tại Hàn Sơn tự

Tàng kinh lâu: (lầu chứa kinh) Trên lầu để một bộ Ðại-Tạng Kinh hoàn chỉnh trân quý khắc in đời Thanh. Dưới lầu, trên hai vách đều có khắc đá toàn bộ Kinh Kim Cương do thư pháp gia nổi
danh Trương-Xư-Liêu đời Tống viết. Nét bút rắn rỏi độc đáo, thật là một di tích quý giá.
Chung lâu: (lầu chuông) Lầu do quan Tuân-vũ Trần-Loan-Long xây vào niên hiệu Quang-Tự đời Thanh, ông cho đúc một quả chuông bằng sắt rồi treo lên đó. Dưới lầu có bài ký 'Trùng tu Hàn-Sơn
Thi Kỷ' khắc vào bia đá, do thư-pháp-gia Hà-Duy-Bội viết.
-
anti
Commentaires